B / HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Đứng trước một “ Nền tảng toán học cũ ” mang nặng tính trừu tượng , phi thực tế , đồng thời bị bế tắc bởi những câu hỏi thật đơn giản , thật cơ bản mà tôi vừa nêu trên . Tôi xin được đưa ra hướng giải quyết mới , nhầm cũng cố lại những quan niệm lệch lạc của “ Nền tảng toán học cũ ” , luôn cho rằng toán học là môn học mang nặng tính trứu tượng , xa rời tự nhiên và thực tế . Theo tôi một “Nền tảng toán học lành mạnh và đúng đắn” , thì nền tảng toán học đó phải mang những yếu tố và tính chất thể hiện đúng với “ tự nhiên và thực tế ” như sau :
1/ Trong tự nhiên cũng như trong thực tế , không có bất kỳ giá trị nào nhỏ hơn không (< 0) , thì trong toán học cũng không được thể hiện bất kỳ giá trị nào nhỏ hơn không (< 0) , kể cả khi các giá trị đó mang phép toán trừ (-) { Hay còn gọi là giá trị âm(-) }
Ví dụ :
- 1 , - 2 , -3 , - 4 , - 5 , ….v..v……Chúng ta cũng không được lập luận và cho rằng :
0 > - 1 > - 2 > - 3 > - 4 >………………..> -$\infty$
Tại sao tôi lại khẳng định như trên, bởi vì qua phần lý giải trên , tôi đã chỉ ra những “ Điểm sai cơ bản ” của toán học . Bây giờ tôi xin được phân tích và lý giải theo sự hiểu biết của riêng cá nhân về các giá trị tự nhiên như sau:
Theo tôi trong tự nhiên có “ N ” chiều, thì trong toán học cũng có “ N ” phép toán , thì giữa toán học và tự nhiên mới có sự tương quan mật thiết lẫn nhau . Vì toán học là công cụ do con người tạo ra , dùng để giải thích tự nhiên . Do đó toán học phải dựa vào tự nhiên và lấy tự nhiên làm nền tảng, để xây dựng nên toán học , thì toán học mới được đơn giản và chính xác , không bắt chúng ta phải học và hiểu toán học một cách “ trừu tượng xa rời tự nhiên và thực tế ” .
Vậy mà các Bậc tiền bối của chúng ta ngày xưa, khi xây dựng nên toán học , do chưa đủ khả năng hiểu rõ tự nhiên , kể cả con số không(0) , nên khi vận dụng các số tự nhiên vào trong toán học , lại làm cho nhân loại hiểu “sai lệch” về các số tự nhiên đó , Bây giờ tôi xin được hiệu chỉnh lại các số tự nhiên trên và trả chúng về cho đúng thực tế hơn.
Thực ra theo tôi trong tự nhiên , chỉ tồn tại duy nhất hai số tự nhiên là không (0) và một(1), [nói nôm na là trong tự nhiên chỉ có hai từ “không(0) và có”, “không (0)” để chỉ số (0) , là không tồn tại hay là không có gì và “có” để chỉ sự hiện hữu là số (1)].Các bạn hảy nhìn vào dải số tự nhiên, ở đây tôi xin mượn tạm hàng số tự nhiên, mà chúng ta vẫn thường dùng, là bên phải số không (0) và bên trái số không (0). Chứ thực tế trong toán học , tồn tại tới “N” dải số tự nhiên , bao quanh con số không (0) ở tâm điểm, luôn luôn mang giá trị nhỏ nhất và được thể hiện như sau:
….v…v…5 , 4 , 3 , 2 , 1 , 0 , 1 , 2 , 3 , 4 , 5….. v….v
Để cụ thể hơn và đúng với tự nhiên, thì các số tự nhiên trên sẽ được thể hiện như sau:
…v..v…1111111111111110111111111111111…v..v…..
Chúng ta nhận thấy ngoài các giá trị (0) và (1) ra, chúng chẳng mang một ý nghỉa nào khác, ngoài ý nghĩa lúc nào con số (0) cũng nằm ở tâm điểm và là con số nhỏ nhất, đông thời là số xuất phát. Đó mới thực sự là các số tự nhiên thuần tuý, đúng với “ Thuyết hình thành nên Vũ trụ” mà tôi đưa ra, đồng thời cũng đúng với số “ nhị phân” mà lập trình máy tính chúng ta đang sử dụng. Bây giờ tôi xin phân dải số trên thành từng nhóm bằng dấu phẩy (,) như sau :
..v…v.., 11111 , 1111 , 111 , 11 , 1 , 0 , 1 , 1 1, 111 , 1111 , 11111 ,,…v…v….
Có phân ra như vậy ta dễ nhận thấy dải số trên, chúng chẳng mang một giá trị âm (-), hoặc dương (+) nào. Mà chúng ta nhận thấy càng đi xa số không (0), các nhóm số càng tăng giá trị lớn dần. Bây giờ chúng ta gộp các số đó lại theo từng nhóm,ta sẽ được dải các số tự nhiên như sau:
…….v….v….., 5 , 4 , 3 , 2 , 1 , 0 , 1 , 2 , 3 , 4 , 5….v….v
Lúc đó chúng chỉ đơn thuần là các số tự nhiên mang giá trị lớn hơn không(0) , mà chúng ta gọi nôm na là các “ số nguyên ” , chứ chúng chưa mang bất cứ một phép toán (+) hoặc trừ (-) nào . Nghĩa là trong tự nhiên chỉ tồn tại các giá trị lớn hơn không (> 0), chứ tự nhiên không tồn tại các số tự nhiên âm(-) và nhỏ hơn không( - < 0 ) như từ nào đến giờ nhân loại vẫn lầm tưởng và gán cho các số tự nhiên đó các giá trị âm(-) và bảo là chúng nhỏ hơn không( - < 0) .Vì vậy theo tôi trong tự nhiên cũng như trong toán học số không(0) , là số “mang giá trị nhỏ nhất tuyệt đối” .
Các bạn hảy xem dải số sau 5 , 4 , 3 , 2 , 1 ,0 , 1 , 2 , 3 , 4 , 5 .Các bạn có nhận thấy các số tự nhiên đó dù nằm bên trái , hoặc bên phải số không(0) , điều mang giá trị lớn hơn không(0) . Các số tự nhiên đó ngoài giá trị lớn hơn không(0) , chúng còn mang thêm đặc tính là , càng đi xa số không(0) chúng mang giá trị càng lớn , chứ không còn mang giá trị nào khác , kể cả các giá trị âm(-),hoặc dương(+).
Nếu ta dùng phép so sánh lớn hơn (>) , hoặc nhỏ hơn (<) , dải số trên sẽ được thể hiện như sau:
+$\infty$ >….………..5 > 4 > 3 > 2 > 1 > 0 < 1 < 2 < 3 < 4 < 5 ……………….< +$\infty$
Chúng ta nhận thấy trong dải số đó lúc nào số không(0), cũng nằm ở tâm điểm và luôn là số nhỏ nhất .
Cũng dải số trên khi tôi gán dấu (+) vào các số tự nhiên đó,thì lúc đó tôi đả "áp đặt", cho các số tự nhiên, đó phép toán cộng(+) , lúc đó dải số trên sẽ là:
+$\infty$ >………..+ 5 > + 4 > + 3 > + 2 > + 1 > 0 < + 1 < + 2 < + 3 < + 4 < + 5………< +$\infty$
Bây giờ cũng dải số như trên tôi gán dấu (-),vào các số tự nhiên đó , thì lúc đó tôi đã áp đặt,cho các số tự nhiên đó các phép toán trừ(-) . Ở đây tôi xin được nhấn mạnh từ " áp đặt phép toán trừ(-) ", để các bạn
dễ hiểu , lúc đó dải số trên sẽ được thể hiện như sau :
-$\infty$ > ……………- 5 > - 4 > - 3 > - 2 > - 1 > 0 < - 1 < - 2 < - 3 < - 4 < - 5……………< -$\infty$
Chúng ta vẫn nhận thấy trong dải số trên, số không(0) luôn nằm ở tâm điểm và luôn là số nhỏ nhất . Nghĩa là theo tôi, trong toán học, sẽ không có các số tự nhiên mang giá trị âm(-) nhỏ hơn không( - < 0 ) , hay dương(+) lớn hơn không( + > 0 ) , mà chỉ tồn tại các số tự nhiên mang các phép toán cộng(+) , hoặc trừ(-),mà thôi
2/ Trong tự nhiên cũng như trong thực tế , mọi vấn đề điều bắt nguồn từ con số không (0) , thì trong toán học chúng ta cũng phải lấy giá trị không (0) , làm điểm xuất phát cho mọi vấn đề và cũng là tâm điểm cho mọi hệ toạ độ , hay trong các phép so sánh . Chứ chúng ta không được lấy hoặc chọn các giá trị dương vô cực ( + ) ,hay âm vô cực(-) làm điểm xuất phát , cũng như làm điểm chuẩn trong các phép so sánh như “ Nền tảng toán học cũ ” vẫn hay dùng như vậy .
Từ cách luận giải trên , chúng ta có thể biểu diễn tập các số tự nhiên và biểu đồ toán học như sau:
I/ Tập các số tự nhiên và biểu đồ toán học :
1/ Tập các số tự nhiên :
Như tôi đã trình bày ở phần trên các số tự nhiên bao gồm :
0 , 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , ……………v..v………………….
Chúng chỉ là các giá trị tự nhiên , do chúng ta đặt ra dùng làm số đếm từ nhỏ đến lớn , ngoài ra chúng chẳng mang bất cứ một ý nghĩa nào khác , nên tôi tạm gọi các số tự nhiên đó là các “ giá trị độc lập ” và được ký hiệu là N .
N : Tập các số tự nhiên
Tương tự các phép toán , cộng (+) , trừ (-) , nhân (x) , chia ( / ) …….v..v….. , chúng chỉ đơn thuần là các phép toán , cũng do chúng ta đặt ra với mục đích dùng để tính toán , ngoài ra chúng cũng chẳng mang bất cứ một ý nghĩa nào khác , nên tôi cũng tạm gọi các phép toán riêng lẻ đó là các “ phép toán độc lập ” .
Bây giờ nếu trường hợp , tôi kết hợp các giá trị tự nhiên và các phép toán đó lại với nhau , như tôi đã trình bày ở phần trên , lúc đó các số tự nhiên đó sẽ trở thành các {“ giá trị toán học ” , là sự kết hợp giữa các số tự nhiên với các phép toán lại với nhau} . Có phân biệt một cách rạch ròi và cụ thể như vậy , thì chúng ta có thể kết hợp giữa các số tự nhiên với bất kỳ phép toán nào cũng được , tùy theo yêu câu toán học đặt ra , mà chúng ta có các tập số tự nhiên , mang các phép toán khác nhau như sau :
* Kết hợp với phép toán cộng (+) chúng ta sẽ được tập các số tự nhiên mang phép toán cộng :
0 , + 1 , + 2 , + 3 , + 4 , + 5 , + 6 , + 7 ,……………v..v…………..
Nếu ta gọi các giá trị tự nhiên bao gồm số không(0) và các số mang phép toán cộng(+) , đồng thời nếu ta thừa nhận (x , y) là hai số tự nhiên bất kì thì ta luôn có hoặc : x = y ; Hoặc : x < y ; Hoặc : x > y
Vì vậy tập hợp các số tự nhiên gồm số không(0) và các số tự nhiên mang phép toán cộng(+) , được gọi là tập các phép toán cộng(+) , được ký hiệu là N+ .
N+ : Tập các số tự nhiên mang phép toán cộng(+)
* Kết hợp với phép toán trừ (-) chúng ta sẽ được tập các số tự nhiên mang phép toán trừ :
0 , - 1 , - 2 , - 3 , - 4 , - 5 , - 6 , - 7 , ………………..v..v………….
Nếu ta gọi các giá trị tự nhiên bao gồm số không(0) và các số mang phép toán trừ(-) , đồng thời nếu ta thừa nhận (x , y) là hai số tự nhiên bất kì thì ta luôn có hoặc : x = y ; Hoặc : x < y ; Hoặc : x > y
Vì vậy tập hợp các số tự nhiên gồm số không(0) và các số tự nhiên mang phép toán trừ(-) , được gọi là tập các phép toán trừ(-) , được ký hiệu là N- .
N- : Tập các số tự nhiên mang phép toán trừ(-)
* Nếu ta quy ước Z là tập các số nguyên bao gồm tập các số tự nhiên mang phép toán cộng(+) và phép toán trừ(-) ,ta sẽ có tập:
Z =
[latex]\mathbb{N}_+\cup \mathbb{N}_-[/latex]
Z : tập các số nguyên { …………, -4 , -3, -2 , -1 ,0 , +1 ,+2 ,+3 ,+4 ,………}
* Tương tự nếu ta gọi R là tập hợp các số thực , bao gồm các số hữu tỉ và các số vô tỉ , mang các phép cộng(+) , hay mang các phép toán trừ(-) , được thể hiện như sau :
a/ Số hửu tỉ :
Mọi số hữu tỉ , là số có thể viết dưới dạng một số thập phân hữu hạn , hay vô hạn tuần hoàn . Ngược lại , mọi số thập phân hữu hạn , hay vô hạn tuần hoàn đều là một số hữu tỉ .
Ví dụ :
1/5 = 0,2 ; 1/6 = 0,1666666…= 0,1(6) ; 1/7 = 0,142857142857 ….= 0,(142857)
1/8 = 0,125 ; 1/11 = 0,09090909…..= 0,(09)
b/ Số vô tỉ :
Số vô tỉ là số thập phân vô hạn không tuần hoàn .
Ví dụ :
= 1,414213562….; = 3,1415926535897……
Nghĩa là nếu ta thừa nhận với hai số thực bất kì ( x , y ta luôn có hoặc x = y ; hoặc x < y ; hoặc x > y )
Tập hợp các số thực gồm số không(0) và các số thực mang phép toán cộng(+) , được gọi là tập các số thực mang phép toán cộng(+) , được ký hiệu là :
R+ ( Tập các số thực mang phép toán cộng )
Tập hợp các số thực gồm số không(0) và các số thực mang phép toán trừ(-) , được gọi là tập các số thực mang phép toán trừ(-) , được ký hiệu là
R- ( Tập các số thực mang phép toán trừ )
Vậy tập các số thực ( R ) sẽ được thể hiện:
R = R+ R-
Để tiện lợi hơn trong toán học , sau này tôi sẽ dùng quy ước và ký hiệu( r+ và r- ) , trong đó :
r+ { là tập các số thực , bao gồm các giá trị mang phép toán cộng(+) > 0 , không chứa giá trị không(0) }
r- { là tập các số thực , bao gồm các giá trị mang phép toán trừ(-) > 0 , không chứa giá trị không(0) }
Trường hợp các số tự nhiên :
* Kết hợp với phép toán nhân (x) chúng sẽ là :
0 , x 1 , x 2 , x 3 , x 4 , x 5 , x 6 , x 7 , ……………..v..v………….
* Kết hợp với phép toán chia ( / ) chúng sẽ là :
0 , / 1 , / 2 , / 3 , / 4 , / 5 , / 6 , / 7 ,………………….v...v………….
Qua phần trình bày một cách cụ thể ở phần kết hợp giữa các phép toán với các giá trị tự nhiên , là tôi muốn chứng minh cho toàn thể các nhà toán học trên Thế giới thấy rằng , các giá trị được kết hợp ở trên là bao gồm giữa các phép toán và các số tự nhiên . Nghĩa là các số tự nhiên đó đã được chúng ta đã “ áp đặt ” các phép toán lên chúng , nên chúng ta không thể cho rằng , các số tự nhiên mang các phép toán trừ (-) , là các giá trị “Âm” và “ gán ” cho chúng là các giá trị nhỏ hơn không ( < 0 ) , như “ Nền tảng toán học cũ ” đã quy ước và bắt buộc chúng ta phải chấp nhận một cách “ sai lầm ” thật nghiêm trọng như vậy .
Vì vậy khi cần sử dụng các giá trị tự nhiên mang các phép tính, chúng ta phải đọc và phải hiểu rằng chúng là các giá trị mang các phép toán, mà bản thân chúng đã được chúng ta gán cho phép toán đó , ví dụ như :
( + 1 ) chúng ta phải đọc và hiểu đó là cộng +1 > 0
( - 1 ) chúng ta phải đọc và hiểu đó là trừ -1 > 0
( x 1 ) chúng ta phải đọc và hiểu đó là nhân x 1 > 0
( / 1 ) chúng ta phải đọc và hiểu đó là chia /1 > 0
Có phân chia một cách cụ thể , đồng thời hiểu một cách rỏ ràng như vậy , lúc đó chúng ta tha hồ mà áp đặt các phép toán lên các số tự nhiên , đồng thời chúng ta có thể tiến hành kết hợp các phép toán đó lại với nhau , một cách dễ dàng và thoải mái , tùy theo yêu cầu toán học do chúng ta đặt ra , mà không làm mất đi giá trị thực của chúng, nên chúng ta không cần dùng đến cái “ Giá trị tuyệt đối(I I) ” , vừa khó hiểu vừa phi thực tế , mang nặng tính “ phép thuật biến hóa ” , như từ nào đến giờ “ Nền tảng toán học cũ ” vẫn thường sử dụng , có thể biến các giá trị đang { âm nhỏ hơn không ( - < 0 ) }, thành các giá trị { dương lớn hơn không ( + > 0 ) } , thật là khó hiểu , vậy mà trải qua bao thế kỷ nhân loại vẫn phải học và phải hiểu như vậy thì quả là chuyện lạ .
Từ cách kết hợp giữa các giá trị tự nhiên , với các phép toán lại với nhau , ta sẽ có được biểu đồ toán học như sau :
2/Biểu đồ toán học kết hợp các số tự nhiên với phép toán cộng (+) , trừ (-)
Nhin vào biểu đồ toán học trên , chúng ta dễ dàng nhận thấy hai trục của biểu đồ , cũng giống như hệ tọa độ Decartes , là bao gồm trục dọc và trục ngang.
· Trục dọc tương ứng với “ trục tung ”
Chúng ta thấy các giá trị cộng(+) , trừ(-) , nằm trên trục dọc hay còn gọi là (trục tung) :
Nếu các giá trị nằm ở phía trên số không(0) , mang phép toán cộng(+)
Ngược lại những giá trị nằm phía dưới số không(0) , sẽ mang các phép toán trừ(-) .
· Trục ngang tương ứng với trục (hoành) :
Nếu các giá trị nằm bên tay phải của số không(0) , mang các phép toán cộng(+)
Ngược lại những giá trị nằm bên tay trái số không , sẽ mang các phép toán trừ(-) .
Nghĩa là trong biểu đồ toán học , nếu ta chọn chiều này là phép toán cộng(+) , thì chiều ngược lại của phép toán cộng(+) , sẽ là phép toán trừ(-). Đồng thời con số không(0) , lúc nào cũng nằm giữa hai phép toán , luôn là con số nhỏ nhất .
Từ biểu đồ kết hợp giữa các phép toán , với các giá trị tự nhiên trên , tôi xin được rút ra những kết luận sau:
a) Kết luận 1 :
chúng ta dễ dàng nhận thấy các giá trị tự nhiên , lúc này không còn là các số tự nhiên “ Độc lập ” , mà chúng đã trở thành “ các giá trị toán học ” . Vì vậy chúng ta không được xem chúng là các giá trị tự nhiên thông thường , tôi xin được đưa ra những ví dụ và chứng minh cụ thể cho những luận điểm trên như sau :
1) Ví dụ 1 :
Trường hợp có hai bạn A và bạn B , do bạn A không có tiền nên phải mượn bạn B ( 10đ ) , để nhớ số tiền mượn đó , bạn A có thể ghi lại trong sổ của mình theo hai cách như sau :
* Cách 1 : Thiếu ( nợ ) bạn B ( 10đ )
* Cách 2 : thể hiện cách ghi bằng toán học là ( - 10đ )
Các bạn có nhận thấy qua hai cách ghi trên (cách 1) là không bằng toán học , (cách 2) là bằng toán học . Ở đây tôi xin được phân tích một cách cụ thể , để các bạn không bị nhầm lẫn số tiền thiếu nợ , nhỏ hơn không(nợ < 0) , như từ nào đến giờ “ Nền tảng toán học cũ” , đã bắt chúng ta học và hiểu một cách “Sai lầm và lệch lạc ” như vậy . Các bạn hãy nhìn vào cụm từ {thiếu nợ ( 10đ )} , tôi sẽ chia cụm từ đó ra thành hai phần riêng lẻ như sau :
* thiếu nợ
* (10đ)
Các bạn nhận thấy có phân biệt ra một cách cụ thể như vậy, thì giá trị (10đ) mà bạn A mượn luôn lớn hơn không , nghĩa là (10đ mượn > 0) . Vì vậy chúng ta không thể nào dùng cách ghi toán học nào, hay phép thuật nào, để biến một giá trị tiền tệ (10đ > 0) , trở thành giá trị tiền tệ (10đ < 0) , kể cả khi chúng ta gán cho giá trị (10đ) đó là từ “nợ” , hay phép toán trừ(-) , như “ Nền tảng toán học cũ ” , đã quy ước và bắt chúng ta phải học và phải hiểu như vậy . Nếu ghi theo cách 1 , thì sau này khi bạn A có tiền là ( 20đ ) trả nợ cho bạn B, ta chỉ cần thực hiện phép toán trừ (-) . Vừa đơn giản dễ hiểu , đồng thời đúng với tinh thần toán học và giá trị (10đ > 0),nghĩa là lấy :
20đ – 10đ = 10đ
Nếu ghi theo cách 2 bằng toán học , lúc đó chúng ta đã áp đặt cho số tiền thiếu của chúng ta phép toán trừ
(-) trước rồi . Nghĩa là cụm từ trừ ( - 10đ ) cũng được tách ra thành riêng lẻ như sau :
* phép toán trừ (-)
* (10đ)
Có phân biệt một cách cụ thể như vậy chúng ta mới dễ dàng nhận thấy :
1) là phép toán trừ (-) và
2) vẫn là giá trị (10đ > 0) .
Do đó chúng ta không thể nào ghép cái giá trị (10đ > 0) đang lớn hơn không đó , cho bất kỳ một phép toán nào , kể cả phép toán trừ (-) , để biến thành giá trị âm (-) nhỏ hơn không , nghĩa là (- 10đ < 0) , một cách “ Sai lầm và lệch lạc ” như vậy . Vì vậy sau này khi có tiền trả nợ cho bạn B , bạn A chỉ cần lấy
( 20đ ) ghép với số tiền bị trừ trước là ( - 10đ ) , nghĩa là chúng ta lấy : 20đ – 10đ = 10đ
Đấy các bạn có nhận thấy , dù cho tôi thể hiện bằng cách 1, hoặc cách 2 , thì phép toán thực hiện khi trả nợ,
cũng đều áp dụng phép toán trừ (-) duy nhất . Đồng thời giá trị (10đ) , lúc nào cũng độc lập với phép toán trừ (-), nên lúc nào cũng lớn hơn không ( > 0 ) , mặc dù giá trị 10đ đó được chúng ta gán cho chúng phép toán trừ (-) . Cách làm đó vừa đơn giản vừa dễ hiểu , mới thể hiện đúng với tinh thần toán học lẫn thực tế .
Chứ chúng ta không thể nào biến bài toán trừ (-) vừa đơn giản , vừa dễ hiểu như vậy , thành một bài toán cộng (+) cho giá trị âm (- < 0) và nhân(x) dấu như sau : 20đ + (- 10đ) = 10đ
Với cách thể hiện của bài toán trên vừa phi thực tế vừa sai với tinh thần toán học , tại sao tôi lại nói như vậy ? Tôi xin chứng minh cho các bạn thấy điểm sai cơ bản của cách áp dụng trên như sau :
Chứng minh 1 :
Các bạn hảy nhìn vào hai bài toán sau :
20đ - 10đ = 10đ (1)
20đ + (- 10đ) = 10đ (2)
Từ (1) và (2) ta suy ra :
- 10đ = + (- 10đ)
Chứng minh 2 :
20đ + 10đ = 30đ (3)
20đ – (- 10đ) = 30đ (4)
Từ (3) và (4) ta suy ra : + 10đ = - (- 10đ)
Các bạn có nhận thấy sự “ Sai lầm ” một cách trầm trọng của “Nền tảng toán học cũ ” khi sử dụng giá trị âm (-) .Nghĩa là từ một bài toán cộng cho giá trị 10đ > 0 của bài toán (3) vậy mà chúng ta có thể biến cái giá trị (10đ > 0) thành cái giá trị (- 10đ < 0) trong bài toán (4) , đồng thời từ bài toán (3) là bài toán cộng (+) , sang bài toán (4) thành bài toán trừ (-) . Thì quả là trải qua bao nhiêu thế kỷ nhân loại được học “ Phép thuật biến hóa ” hơn là học toán .
* Chú thích : Phương pháp nhân(x) và chia(/) dấu của các phép toán cộng(+) và trừ(-) , chỉ được áp dụng để giải các phương trình toán học , chứa một hoặc nhiều ẩn số , sẽ được tôi trình bày rõ hơn ở phần sau :
b) Kết luận 2 :
Chúng ta nhận thấy con số không lúc nào cũng nằm tại tâm điểm của biểu đồ và luôn là giá trị “ Nhỏ nhất ” , đồng thời con số không (0) , không thể hiện bất kỳ một phép toán cộng (+) hay trừ (-) nào .
* Từ việc tách rời các phép toán và các giá trị tự nhiên như trên , chúng ta có thể kết hợp các phép toán lại với nhau trên mọi hình thức , tùy theo yêu cầu toán học mà chúng ta đưa ra , nhầm giải quyết các vấn đề toán học cao cấp hơn . Mà một trong các phép toán khó lý giải là dạng số phức (hay còn gọi là số ảo) .
Do chúng ta đã mắc phải sai lầm từ đầu là sử dụng giá trị âm (-) , nên chúng ta bị bế tắc ngay khi gặp phương trình x2 + 1 = 0 ; Mà kết quả cho ra là x2 = - 1 < 0 ; là một giá trị âm (-) , không thể khai căn được ,nên phương trình x2 = - 1 < 0 không có nghiệm . Vì vậy phải trải qua quá trình lâu dài sau này chúng ta mới đưa chúng vào toán học và quy ước chúng là “ số phức ” hay là “ số ảo ” . Vấn đề này tôi sẽ trình bày rỏ hơn trong phần “ Số Phức ” .
Nhưng nếu từ đầu chúng ta phân biệt một cách rõ ràng , giữa các giá trị tự nhiên và các phép toán , chúng ta không sử dụng các giá trị âm ( - < 0 ) , mang nặng tính trừu tượng và phi thực tế , thì chúng ta sẽ không bị bế tắc và dễ dàng sử dụng tất cả các quy ước toán học , mà không gặp bất kỳ trở ngại nào , kể cả khi chúng ta quy ước i4 là nghiệm của phương trình i4 + 1 = 0 ; Chẳng hạn .
Sau đây tôi xin “Trình bày và khai triển” , những “Quan điểm toán học mới” , bằng các định nghĩa và định lý . Nhưng trước khi đưa ra những định nghĩa và định lý , tôi xin đưa một “ Tiên đề ” thật tối quan trọng , dùng làm kim chỉ nam cho toàn bộ “Quan điểm toán học mới” do tôi đưa ra như sau :