Đăng chủ đề  Đăng  trả lời 
 
Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Tiểu sử của các nhà toán học thời xưa
23-06-2012, 09:44 PM (Được chỉnh sửa: 23-06-2012 09:45 PM bởi đại_gia_A4_k38_ntt.)
Bài viết: #1
post_new Tiểu sử của các nhà toán học thời xưa
Nền toán học của thế giới nói riêng và Việt Nam nói chung đã có những thành tựu rực rỡ, những công thức và định lý vô giá. Để có được như vậy các nhà toán học xưa và nay đã có những đóng góp lớn lao cùng với niềm say mê toán học vô bờ bến. Vì vậy công lao của họ công lao của họ phải được toàn thế giới trân trọng và gìn giữ. Qua đây chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu tiểu sử của các nhà toán học thời xưa để cùng hiểu thêm và quá trình hình thành môn toán học ^^

- Levi ben Gerson


Levi ben Gerson viết quyển “Book of Numbers” năm 1321 về vấn đề các phép tính số học, bao gồm cả phép khai căn các nghiệm.
Năm 1342, ông đã viết “On Sines”, “Chords” và “Arcs”, nghiên cứu về lượng giác, đặc biệt là chứng minh định lý hàm sin dùng cho các tam giác phẳng và đưa ra 5 biểu đồ hình sin. Một năm sau, theo yêu cầu của một giám mục ở Meaux, ông viết quyển “The Harmony of Numbers” bình luận về 5 quyển sách đầu tiên của Euclid.
Ong cũng đã phát minh “Cái gậy của Gia-cốp”, một dụng cụ để đo khoảng cách góc giữa các thiên thể, được mô tả là bao gồm lần quan sát nhật thực của Levi năm 1337. Sau khi quan sát hiện tượng này, ông đã biên soạn một lý thuyết mới về mặt trời mà ông đã tiếp tục kiểm tra bằng các quan sát xa hơn. Ong cũng đã quan sát hiện tượng nguyệt thực vào ngày 3/10/1335. Ong mô tả chuyển động hình học của Mặt Trăng và quan sát thiên văn Mặt Trăng, Mặt Trời và các hành tinh.
Nhiều niềm tin của ông được tin tưởng rộng rãi như niềm tin rằng Dãy Ngân Hà nằm trên một mặt cầu gồm nhiều ngôi sao cố định và phát sáng nhờ ánh sáng phản chiếu của mặt trời. Các tác phẩm khác của ông thuộc về triết học và bình luận về kinh thánh.

- Leibniz Gottfried


• 1.7.1646: nhà toán học và cũng là nhà triết học ,nhà sử học, nhà luật học, nhà ngoại giao Đức Leibniz Gottfried sinh tại Leipzig (Đức)
• 1661-1664: Ở tuổi 15, cậu bé biết n

hiều ngôn ngữ cổ, nền văn học Hi Lạp , La Tinh và triết học. Cậu đọc nhiều tác phẩm triết học và cậu làm quen với thế giới mới mà các nhà triết học “ tự nhiên” thời đó đã phát minh , nhất là Descartes là người ảnh hưởng đến cậu bé rất nhiều.
• 1666: ở tuổi 20, Leibniz đã sẵn sàng để thi tiến sĩ luật học. Nhưng khoa luật trường Đai học Leipzig không đồng ý cho thi, với lí do anh còn quá trẻ.
• 1667-1671: Leibniz bèn dời thành phố quê hương đến Nuremberg . Ông trở thành nhà v , nhà luật học. Có thể nói ông là một người toàn năng. Ông dễ dàng làm việc ở đâu cũng được. Ông không ngừng đọc , viết và suy nghĩ. Ông đã viết phần lớn các luận văn toán học và cả những công trình đáng lưu ý khác về mọi chuyện của thế giới này hay thế giới bên kia khi ông đi từ nơi này sang nơi khác theo yêu cầu của công việc. Sau đó ít lâu, ông trở thành nhà ngoại giao phục vụ Tuyển Hầu Mayence. Vì vậy, ông có nhiều dịp lưu lải ở Paris.
• 1672-1676:
-1672, ở tuổi 26, trước khi gặp Huygens, Leibniz đã sáng chế ra một máy tính làm được các phép tính cộng, trừ , nhân, chia và khai căn, như vậy là hơn hẳn máy tính của Pascal, chỉ làm được phép tính cộng và trừ. Sau đó, Leibniz yêu cầu Huygens dạy toán cho mình. Leibniz vốn là nhà toán học bẩm sinh. Dưới sự hướng dẫn tận tình của Huygens, thiên tài ông nở rộ. Ong nghiên cứu các công trình của các nhà toán học lớn và của chính Huygens. Trong thời gian đó , ông thu được nhiều kết qua xuất sắc.
- Các buổi học phải tạm dừng từ tháng giêng đến tháng ba năm 1673, vì Leibniz công du đến Luân Đôn, với tư cách là tùy viên phục vụ Tuyển hầu. Trong thời gian đó, Leibniz tham dự những buổi họp của Hội Hoàng gia, giới thiệu máy tính mà ông đã sáng chế và các công trình khác, nhờ đó ông được bầu làm thành viên nước ngoài của Hội Hoàng gia, trước khi ông trở về Paris tháng ba năm 1673.
- Lz và sau đó (1700), Newton là những thành viên nước ngoài đầu tiên của viện Hàn lâm khoa học Paris.
- Phấn khởi trước những gì Leibniz đã làm được ở Luân Đôn, Huygens khuyến khích ông tiếp tục, và Leibniz dành tất cả thời gian rảnh rỗi cho toán học. 1677-1714: ông viết rất nhiều và là trung tâm của những sáng kiến trong giới trí thức Châu Au. Một nhà toán học , nhà triết học, nhà thần học, nhà ngôn ngữ học, nhà sử học, nhà địa lý học.
- 1686: luận văn siêu hình học
- 1699:gia nhập Viện Hàn lâm khoa học Paris
- 1703: tiểu luận mới về lý trí loài người
- 1714: đến Vienne, ông cho ra đời 2 tác phẩm :”Nguyên tắc triết học”, “v
- 14.11.1716: ông qua đời trong cảnh cô đơn ở tuổi 70. Chỉ có Viện Hàn lâm Paris tỏ lòng kính trọng ông : lời khen của Fontenelle năm 1717.
Dù là một nhà phát minh hay một nhà bách khoa, ông đều có những bước phát triẻn tốt. Có một đầu óc khoa học, ông tin rằng dưới sự phát triển của khoa học không chỉ nâng cao đời sống vật chất con người mà còn giúp họ trưởng thành về tình yêu và đạo đức. Leibniz mong muốn đưa khoa học đến với mọi người và đọc cuốn bách khoa toàn thư, “phát minh từ nhũng kiến thức có được và không theo hàng”, đó không chỉ là bản tổng kết kiến thức mà còn là phương tiện để phát triên xa hơn.
Leibniz đã phác thảo tầm rộng của sự tìm kiếm thông tin, từ nguồn gốc toán học và triết học của môn học này cho đến các phép tính, lập luận cơ khí hóa.

-- CUỘC PHÂN TRANH GIỮA Leibniz và Newton

- Trước khi rời Paris năm 1676 để về Hanovre phục vụ công tước Branswick-Lunebourg, ông thiết lập một số công thức sơ cấp của phép tính vi phân và phát minh ra định lí cơ bản của phép tính vi tích phân về quan hệ giữa đạo hàm và tích phân
- Theo lời của Leibniz thì định lí này được phát minh năm 1675 và không được công ố trước ngày 11/07/1677. 11 năm trước, Newton đã phát minh ra định lí ấy, nhưng ông không công bố ngay, và chỉ khi Leibniz công bố phát minh rồi ông mới công bố. Newton nghĩ rằng Leibniz đã đọc được phát minh ấy trong bản thảo của mình nên ông đòi quyền ưu tiên của sự phát minh về mình.
- Cuộc tranh cãi giữa Leibniz & Newton về quyền ưu tiên của sự phát minh ấy nghiêm trọng nhất khi Leibniz , né tránh một cách ngoại giao, dưới danh nghĩa vô danh của ban bien tập, viết một bài báo phê bình rất nghiêm khắc công trình của Newton , trong tạp chí Acta Eruditorum mà chính Leibniz lập ra năm 1882 và là chủ bút.
- Từ 1677-1704, phép tính vi tích phân của Leibniz phát triển thành một công cụ thực sự có hiệu lực và được áp dụng một cách dễ dàng trên lục địa.Trong lúc đó, ở Anh, vì Newton không thích phổ biến một cách tự do các phát minh của mình nên các phép tính của Newton vẫn ở tình trạng một điều lạ lùng chưa qua thử thách.


- Ernst Sigismund Fischer


(sinh ngày 12/7/1875 ở Vienna, Uc, mất ngày 14/11/1954 ở Cologne, Đức ).
Ernst Fischer học ở Vienna với thầy Mertens từ năm 1894. Ong ở Berlin năm 1899 và học ở Zurich & Gottingen với Minkowski. Từ 1902, ông là phụ tá của E Waelsch ở trường đại học Brunn ( Brno ngày nay). Sau vài năm thì trở thành giáo sư.
Từ năm 1911 đến năm 1920, Fischer là giáo sư ở Erlanger. Từ 1920, làm việc ở Cologne.
Năm 1907, Erst Fischer nghiên cứu về dãy của hàm số và đưa ra những điều kiện cần thiết và đầy đủ cho một dãy không đổi trở thành hệ số Fourier của một hàm tích phân bình phương , từ đó dẫn đến khái niệm không gian Hilbert. Friesz cũng công bố một kết quả tương tự cùng năm đó.
Định lý Riesz-Fischer là một trong những thành tựu vĩ đại của lý thuyết Lebesgue về tích phân.
Estience de La Roche


(sinh năm 1470 ở Lyon, Pháp & mất năm 1530).

Gia đình của Estience de La Roche sống ở Lyon và sở hữu bất động sản gần thị trấn của Villefranche. Bởi vì nơi ông sống là vùng đất mới, La Roche thỉnh thỏang được nhắc đến là Villefranche.

Ong học tóan từ Chuquet và sở hữu nhiều bản thảo viết tay của Chuquet nên được xem là học trò giỏi của ông. La Roche dạy số học ở Lyon trong 25 năm. Vì được biết đến nhiều như là một giáo viên tóan nên ông còn được gọi là ông thầy của chữ số. La Roche xuất bản quyển “Larismetique” năm 1520, được xem là quyển sách số học xuất sắc với ghi chú đầy đủ về lũy thừa và nghiệm. Năm 1880 Aristide Marre đã xuất bản “Triparty” của Chuquet và người ta phát hiện ra phần đầu của “Larismetique” của La Roche là một bản sao của “Algebra” của Chuquet. Lúc ấy, người ta đã nghĩ La Roche chỉ là một kẻ ăn cắp ý tưởng. Tuy nhiên, các công trình mới về sau của ông đã làm giảm bớt tính gay gắt của kết luận trên.

Ong đã dạy về ngành tóan học quan trọng mà vẫn chưa rộng mở với người Pháp. Còn lại, những công trình của ông là toán học thương mại.
Nguồn : vietmaths.com.vn

-Janos Bolyai


(1802- 1860) là một nhà toán học người Hung. Từ khi nghe bố cũng là một nhà toán học xuất sắc, nói về tiên đề về các đường song song của Euclide thì Bolyai không giờ phút nào để cho tâm hồn mình được yên tĩnh. Tiên đề về các đường song song của Euclide đã hai nghìn năm chưa ai chứng minh được: nếu kéo dài hai đường song song ra vô tận thì chúng sẽ gặp nhau, hay ngược lại xa nhau dần? Bài toán đó đã thu hút hết trí lực của Bolyai. Trong một bức thư đẫm nước mắt bố của Bolyai khẩn cầu con đừng để tâm lực vào tiên đề V của Euclide. "Đó không phải là một bài toán mà là một lời nguyền có ma lực của kẻ phù thuỷ! Bố đã mất ăn mất ngủ vì tiên đề đó, bố không muốn con chết dần mòn, tiêu huỷ tuổi thanh xuân vì tiên đề đó không đem lại sự yên tĩnh cho tâm hồn và vinh quang cho cuộc đời con. Bố van con!"


Mặc cho mọi lời khuyên của bố, Janos Bolyai bị cuốn hút bởi tiên đề V của Euclide như bởi một ma lực có thể so sánh với cái ma lực đã cuốn hút Gaughin đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người vùng nhiệt đới.


Cho nên sự đam mê nghệ thuật và khoa học là sự đam mê chung của những thiên tài. Sau khi giải quyết được tiên đề về các đường song song và tìm ra hình học phi Euclide mà không được người đương thời hiểu nổi, lại biết rằng nhà toán học Nga Lobatchevski cũng đã tìm ra hình học này Janos Bolyai chết dần một cách bi thảm.
Nguồn : Bài viết đăng trên báo Tuổi Xanh Tinh Vân số 38+39 ra ngày 15/1/2006

-Đêmôcrit


Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của Hi Lạp cổ đại.
Đêmôcrit sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứ Tơraxia, ven bờ phía Bắc của biển Êgiê.

Đêmôcrit là người đầu tiên giải thích cơ cấu của tự nhiên là nguyên tử. Theo ông đó là những hạt nhỏ mà mắt người không thấy được, không thể phân chia được nữa và sự vận động của các hạt là sự vận động của tự nhiên. Ông nói rằng mọi hiện tượng trong vũ trụ đều là kết quả do sức hấp dẫn của các nguyên tử ảnh hưởng lẫn nhau mà sinh ra. Ông cho rằng mọi biến động trong thế giới vật chất đều là những hiện tượng tự nhiên và hợp với quy luật.

Đêmôcrit đã áp dụng học thuyết nguyên tử của mình vào toán học. Ông cho rằng mọi đại lượng hình học đều gồm những đại lượng - ban đầu là những "nguyên tử hình học". Cống hiến của Đêmôcrit trong lịch sử toán học: ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu vấn đề thể tích và chủ trương sử dụng một phương pháp nghiên cứu toán học, mà sự phát triển tiếp theo của nó đã đưa đến việc sáng lập lý thuyết các đại lượng vô cùng bé.

Đêmôcrit đã có nhiều công trình về khoa học tự nhiên. Luận văn "Về bản chất con người của ông" có những kiến thức giải phẫu sinh lý con người rất có giá trị. Ông đã thu nhập được những tài liệu phong phú về động vật học và thực vật học. Các Mác đánh giá Đêmôcrit là "trí thuệ vạn năng đầu tiên trong những người Hi Lạp".

Đêmôcrit là người không tin có thần thánh. Ông bác bỏ nguồn gốc thần thánh của vũ trụ. Ông cho bản chất của vạn vật là các nguyên tử và các khoảng chân không. Ông cho nguồn gốc của những quan niệm tôn giáo là sự sợ hãi và dốt nát của con người. Đêmôcrit đã giải quyết được những thiếu sót của các nhà duy vật trước ông và đã căn bản phê phán được học thuyết duy tâm cổ đại.
Nguồn : Wikipedia

-Georg Cantor


Nói về nhà toán học người Đan Mạch Georg Cantor, người ta luôn ca ngợi trí thông minh tuyệt đỉnh của ông với sự ngưỡng mộ, sùng kính, thậm chí còn đôi chút tôn thờ. Lý thuyết tập hợp của Cantor ra đời cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 đã giúp ông giải quyết nhanh gọn “nghịch lý Zénon” dựa trên ý tưởng có thể so sánh hai đại lượng vô hạn với nhau....

Quả thật, những suy luận trừu tượng kiểu này dễ khiến người ta phát điên. Và thiên tài Cantor cũng không là ngoại lệ. Về già, ông mắc chứng thần kinh điên loạn, dành trọn những năm cuối đời ngồi tỉ mẩn chứng minh: Chúa trời là một... số vô cực và Francis Bacon đã viết nên những tác phẩm kinh điển của Shakespeare.
Nguồn : dantri.com.vn

-Oliver Heaviside


Năm 30 tuổi, kỹ sư cơ khí kiêm nhà toán học người Anh Oliver Heaviside đã đưa ra một phát minh vô cùng quan trọng: biến các phương trình vi phân về dạng số học giản đơn. Không thể diễn tả phát minh này đã ảnh hưởng sâu sắc tới việc nghiên cứu bộ môn vi phân - tích phân như thế nào.

Đáng buồn thay đến những năm cuối cùng của cuộc đời, Heaviside vốn dĩ đã sống lập dị lại càng tỏ ra điên loạn hơn. Ông sơn móng tay bằng màu hồng lòe loẹt - hành động quá sức điên rồ ở những năm 1920, tống tháo tất cả mọi đồ đạc trong nhà ra ngoài đường, thay thế bằng những khối đá granite đủ kích thước và hình thù kỳ dị.
Nguồn : dantri.com.vn

-Walter Petryshyn


Năm 1996, cuốn sách về chức năng của hồi quy và tương quan phi tuyến vừa xuất bản thì nhà toán học người Mỹ gốc Ukraina Walter Petryshyn bỗng phát hiện trong đó tồn tại một sai lầm chết người. Áp lực lo sợ bị cộng đồng nghiên cứu dè bỉu nặng nề đã khiến ông hóa điên - theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Sự quẫn trí và hoang tưởng đã đưa đẩy ông đến hành vi mưu sát vợ năm 1997.
Nguồn : dantri.com.vn

-Evariste Galois


Có một thực tế đã trở thành chân lý: đã là thiên tài toán học thì không bao giờ xuất sắc trong đấu súng tay đôi. Nhưng dường như chưa ai từng nói điều này cho Evariste Galois - thần đồng toán học người Pháp thế kỷ 19, người đã đóng góp vào ngành số học của nhân loại bằng một lý thuyết nổi tiếng mang chính tên ông (lý thuyết trường Galois).

Tuy nhiên Galois đã không may mắn sống tới lúc tên tuổi được vinh danh. Chàng trai trẻ bỏ mạng trong một cuộc đấu súng khi vừa tròn 20 tuổi. Điều bất thường ở thiên tài này ở chỗ: Ông đã dàn dựng trận đấu y hệt một cuộc phục kích bắt bớ của cảnh sát, với hy vọng cái chết của mình sẽ châm ngòi cho cuộc cách mạng dân chủ sau này.

Đừng Ỷ Lại Vào Người Khác - Hãy Tự Suy Nghỉ Và tư Duy => Thành Công Là Tất Yếu
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Trích dẫn bài này trong bài trả lời
Đăng chủ đề  Đăng  trả lời 


Có thể liên quan đến chủ đề
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới nhất
icon22 Mô hình toán học mới cho các lí thuyết không-thời gian admin 0 295 12-06-2013 06:45 AM
Bài mới nhất: admin
Lightbulb Thúc đẩy say mê toán học với “tiểu thuyết toán hiệp” Alex... 0 503 08-12-2012 11:11 PM
Bài mới nhất: Alex...
post_new Công bố phương pháp học Toán mới dành cho HS tiểu học admin 0 641 29-09-2012 05:51 PM
Bài mới nhất: admin
Exclamation GS Ngô Bảo Châu ’bật mí’ về tiểu thuyết Toán hiệp admin 0 542 04-08-2012 07:05 AM
Bài mới nhất: admin
Exclamation GS Ngô Bảo Châu tọa đàm về cuốn sách tiểu thuyết toán học admin 0 696 24-07-2012 06:41 PM
Bài mới nhất: admin
post_new Pytagore - Trường phái toán học thời cổ đại admin 0 477 10-06-2012 04:28 PM
Bài mới nhất: admin
post_new CẦN TIẾP CẬN THEO LOGIC TOÁN HỌC VỀ VẤN ĐỀ THỜI GIAN TRONG PHAP LUẬT admin 0 472 11-04-2012 03:28 PM
Bài mới nhất: admin
post_new Tiểu thuyết của Ngô Bảo Châu: Mua ào ào nhưng đọc thì... chưa biết admin 0 826 08-04-2012 08:12 AM
Bài mới nhất: admin
Brick Toán học - học mà chơi: Archimedes - nhà bác học vĩ đại thời cổ đại admin 0 463 24-03-2012 09:02 PM
Bài mới nhất: admin
icon9 Ngô Bảo Châu, Nguyễn Phương Văn ra mắt tiểu thuyết toán học admin 0 557 09-03-2012 11:21 AM
Bài mới nhất: admin

Chuyển nhanh:


User(s) browsing this thread: 1 Guest(s)